HỌC PHẬT LÀ SỰ HƯỞNG THỤ TỐI CAO CỦA ĐỜI NGƯỜI- TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ. 學佛是人生最高的享受-淨空法師
净空法师法语:念佛要怎么念?NIỆM PHẬT PHẢI NIỆM NHƯ THẾ NÀO
1 我们在讲席里,常常提醒同修们,念佛要把烦恼念掉,要把习气念掉,六根接触六尘境界,这个心才动,就一句阿弥陀佛,把那个念头压下去,这叫功夫。
Chúng tôi tại trong các pháp hội giảng kinh, thường thường nói rõ với các bạn đồng tu, niệm Phật cần phải buông rơi niệm phiền não, cần phải đem cái niệm của tập khí buông rơi xuống, lục căn tiếp xúc lục trần, vừa lúc mới khởi tâm động niệm, liền đem một câu A-Di-Đà-Phật, để đè ép cái niệm khi nãy xuống, đây gọi là công phu.
2 一面念佛,一面打妄想,那有什么用处?那就是古德讲“口念弥陀心散乱,喊破喉咙也枉然”。所以念佛的目的,《弥陀经》上讲得很好,“一心不乱”。
Một mặt niệm Phật, một mặt cứ vọng tưởng, như thế thì ứng dụng được gì? Đó chính là chỗ Cổ đức đã nói: “Miệng niệm Di-Đà tâm tán loạn, thét bể cổ họng cũng uổng công”. Cho nên trong phần niệm Phật của “Di-Đà-Kinh” trước đã nêu được rất rõ, “nhất tâm bất loạn”.
3 一心不乱就是清净心现前,然后才能真正懂得古人所讲的“心净则土净”。心地清净,这是决定得生净土的条件。
Nhất tâm bất loạn chính là tâm thanh tịnh hiện tiền, vậy sau mới chân chánh hiểu được lời Cổ đức đã nói: “Tâm tịnh tất cảnh giới tịnh”. Cõi lòng thanh tịnh, đây là điều kiện quyết định sanh về Tịnh độ.
4 这个法门没有别的诀窍,就像大经里面所说的,“发菩提心,一向专念”,《弥陀经》里面所讲的“一心不乱、心不颠倒”,你只要真正能照这样做,就决定成功,所以说非常非常地重要。
Pháp môn này không có bí quyết gì xa lạ, chính là y nơi trong kinh chỗ nói, “phát tâm Bồ-Đề, chuyên niệm một đường”, là chính trong kinh Di-Đà đã nói: “nhất tâm bất loạn, tâm không loạn động”, anh chỉ cần chân chánh y theo cách này mà làm, thì quyết định thành công, cho nên nói vô cùng vô cùng quan trọng.
5 我们必须要记住,西方极乐世界是“诸上善人俱会一处”,我们的心善、行善、念头善,这就是深信切愿,这就是发菩提心。奉行六波罗蜜,这是善的标准,如果我们的心不善、念头不善、行不善,纵然一天念十万声佛号也不能往生,只是跟阿弥陀佛结一个缘而已。
Chúng ta tất nên cần phải ghi nhớ, Tây phương Cực lạc thế giới là “các bậc thượng thiện cùng ở một nơi”, tâm của chúng ta thiện, làm việc thiện, nghĩ nhớ thiện, đây chính là thâm tín thiết nguyện, chính là phát tâm Bồ-Đề. Vâng làm theo lục Ba-la-mật, đây là tiêu chuẩn của thiện, nếu như tâm của chúng ta không thiện, nghĩ nhớ bất thiện, làm việc bất thiện, dầu cho mỗi ngày niệm mười vạn hiệu Phật cũng chẳng thể vãng sanh, chỉ là cùng với Đức Phật Di-Đà kết một ít nhân duyên mà thôi.
6 用清净心念佛,这个清净心就是一向专念,所以功夫得力不在于念佛念多少,你一天念十万声佛号,伏不住烦恼,不能得一心。如果你一天只修十念,你这十念得力,真能伏烦恼,那就不得了,那就是功夫。
Dùng tâm thanh tịnh niệm Phật, cái tâm thanh tịnh này chính là nhất hướng chuyên niệm, cho nên công phu đắc lực không ở chỗ niệm Phật được nhiều ít, anh mỗi ngày niệm mười vạn Phật hiệu, không điều phục được phiền não, không thể được nhất tâm. Nếu như anh mỗi ngày chỉ mười niệm, anh nơi mười niệm này được đắc lực, có thể điều phục được phiền não, thế còn chưa được sao, đó chính là công phu.
7 念佛要怎么念?我们中国的文字,是智慧的符号,“念”,上面是个今,下面是个心,“念”字的意思是现在的心,现在心上有佛,这叫念佛。不一定在口里头,口上有佛不管用,一定要心上有佛。
Niệm Phật phải niệm như thế nào? Văn tự Trung quốc của chúng ta, là biểu hiện của trí tuệ, chữ “niệm-念”, phía trên là chữ “kim-今”, bên dưới là một chữ “tâm-心”, ý của chữ “niệm-念” là tâm nơi hiện tại, trong tâm hiện tại có Phật, đây gọi là niệm Phật. Không nhất định niệm nơi cửa miệng, trên miệng có Phật không tác dụng, nhất định phải có Phật trong tâm.
8 心上有佛,行为当中有佛,生活当中有佛,工作当中有佛,处事待人接物当中都有佛,这才叫真正念佛人,这一种念佛,古大德所说,“万修万人去”。
Trong tâm có Phật, ngay nơi việc làm có Phật, ngay trong sinh hoạt có Phật, công tác có Phật, xử sự đối người tiếp vật nơi nào cũng có Phật, đây mới gọi là người niệm Phật chân chánh, niệm Phật cách thế này, là Cổ đức chỗ nói: “Vạn người tu, vạn người vãng sanh”.
Nguồn: http://www.xuefo.net/show1_14716.htm
Chỉ mong chuyển được ý để bạn đồng học đồng tu nào chưa học qua tiếng Hoa có thể lược xem đại ý. Bài dịch nếu có sơ sót, xin được chỉ dẫn thêm.
Lý Nhật Minh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Sư Tịnh Không Pháp Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Sư Tịnh Không Pháp Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009
Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009
TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ PHÁP NGỮ (15-07-2009)
HỌC PHẬT LÀ SỰ HƯỞNG THỤ CAO NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI- TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ.學佛是人生最高的享受-淨空法師
TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ PHÁP NGỮ: KHÔNG CÓ BỆNH KHỔ, NHƯ NHẬP THIỀN ĐỊNH, ĐÂY LÀ CHÂN CHÁNH CÔNG PHU-净空法师法语:没有病苦,如入禅定,这是真功夫.
1 禅定,是自己有主宰、有主见,不为外境所动。禅的意思是静虑,也叫止观。 “止”是放下妄想分别执着;“观”是看破“凡所有相,皆是虚妄”。
Thiền định, là tự thân có chủ tể, có chủ kiến, không bị động vì ngoại cảnh. Ý nghĩa của THIỀN là tịnh lự, còn gọi là CHỈ QUÁN. “Chỉ” là buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước; “Quán” là thẩm xét ra “phàm tướng nào có sanh ra, hết thảy đều hư vọng”.
2 佛法不管是哪一宗,显教密宗,各宗各派,都重视禅定。无量法门都是修禅定,离开禅定就没有佛法了,可见得禅定非常重要。
Phật pháp bất luận là tông phái nào, hiển giáo hay mật tông, mỗi tông mỗi phái, đều xem trọng thiền định. Vô lượng pháp môn đều là tu thiền định, xa rời thiền định tức thời không có Phật pháp rồi, thế mới thấy đắc được thiền định là vô cùng cần thiết.
3 佛法的修学着重禅定,不着重研究。经典愈研究是愈糟糕,愈差错;你心定,你心清净,你就全都明了了。所谓觉心不动,你只要心定下来,就与你的觉性相应了。
Tu học Phật pháp rất chú trọng Thiền định, không chú trọng nghiên cứu. Kinh điển càng nghiên cứu càng rắc rối, càng nhầm lẫn; tâm anh định, tâm anh thanh tịnh, anh chính là toàn bộ minh minh liễu liễu. Gọi là tâm giác ngộ không lay động, anh chỉ cần đặt chân vào tâm định, chính là cùng với giác tánh của anh tương ứng rồi.
4 修行人要喜欢寂寞,心常住定中,才能成就。有道行的人,言语必少,因为他的心是定的。
Người tu hành cần phải vui thích với sự tịch mặc, tâm thường trú trong định, mới có thể thành tựu. Người có đạo hạnh, ngôn ngữ hẳn là rất ít, bởi vì tâm của họ là tâm định.
5 定是佛门修行的关键,也就是说,我们要恢复本性、恢复真心,用什么方法?用定。
Định là then chốt tu hành của Phật môn, cũng chính là nói, chúng ta cần khôi phục bản tánh, khôi phục chân tâm, dùng phương pháp nào? Sử dụng Thiền định.
6 佛法不是知识,它是智慧。知识是从分别心里面显现出来的,智慧是从清净心里面显现出来的,它不一样。念佛人修清净心,清净心就是禅定。
Phật pháp không phải là tri thức, nó là Trí tuệ. Tri thức là tư trong cái tâm phân biệt xuất hiện ra, Trí tuệ là từ nơi trong tâm thanh tịnh lưu xuất, nó không giống nhau. Người niệm Phật tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là Thiền định.
7 念佛人讲“功夫成片、一心不乱”,那就是禅定。净土宗是用“持名念佛”的方法修禅定。没有一个法门不是修定的,你认为只有禅宗才修定,那你就搞错了!
Người niệm Phật nói “công phu thành mảng, nhất tâm bất loạn”, đó chính là Thiền định. Tịnh độ tông là dùng phương pháp “trì danh niệm Phật” để tu Thiền định. Chẳng có một pháp môn nào mà chẳng là Thiền định, anh cho rằng chỉ có Thiền tông mới tu Thiền định, như thế là anh đã làm sai rồi!
8 禅定不是心里什么都没有,不是的,禅定是清清楚楚、如如不动。遇到任何事情,都要练习心中了了分明,如如不动。“如如不动”就是内心清净,没有妄想分别执着。
Thiền định chẳng phải là trong tâm cái gì cũng chẳng có, không phải vậy, Thiền định là rõ rõ ràng ràng, như như bất động. Gặp phải sự tình gì, đều phải tập cho trong tâm liễu liễu phân minh, như như bất động. “Như Như bất động” chính là nội tâm thanh tịnh, không có vọng tưởng phân biệt chấp trước.
9 禅定不是闭着眼睛参,是睁着眼睛参的,六根见外面六尘境界清清楚楚。要不要打坐,跟“禅定”没什么大关系。真正高明的“定”没有迹相,行住坐卧都是“禅定”,嬉笑怒骂也是“禅定”。
Thiền định không phải là nhắm mắt lại mà tham thiền, là mở mắt mà tham thiền, lục căn nhìn thấy lục trần bên ngoài rõ rõ ràng ràng. Ngồi thiền hay không ngồi, cùng với “Thiền định” chẳng có quan hệ gì. Định chân chánh cao minh chẳng có kiểu dáng, đi đứng ngồi nằm đều là “Thiền định”, cười đùa la rầy lại cũng là “Thiền định”.
10 《坛经》里面说:外不着相叫“禅”,内不动心叫“定”。六根接触六尘境界,你不着相,就叫做“禅”;心里不起贪嗔痴慢,心里清净不起烦恼,就叫做“定”。
Trong “Pháp Bảo Đàn Kinh” có nói: ngoài không trước tướng gọi đó là “Thiền”, trong bất động gọi đó là “Định”. Lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần, anh không chấp tướng, chính là thực hành thiền; trong tâm không khởi tham sân si mạn, tâm thanh tịnh không khởi phiền não, gọi là thực hành định.
Nguồn: http://www.xuefo.net/znxg_13809_1.htm
Chỉ mong chuyển được ý để bạn đồng học đồng tu nào chưa học qua tiếng Hoa có thể lược xem đại ý. Bài dịch nếu có sơ sót, xin được chỉ dẫn thêm.
Lý Nhật Minh http://blog.com.vn/ly_nhat_minh
TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ PHÁP NGỮ: KHÔNG CÓ BỆNH KHỔ, NHƯ NHẬP THIỀN ĐỊNH, ĐÂY LÀ CHÂN CHÁNH CÔNG PHU-净空法师法语:没有病苦,如入禅定,这是真功夫.
1 禅定,是自己有主宰、有主见,不为外境所动。禅的意思是静虑,也叫止观。 “止”是放下妄想分别执着;“观”是看破“凡所有相,皆是虚妄”。
Thiền định, là tự thân có chủ tể, có chủ kiến, không bị động vì ngoại cảnh. Ý nghĩa của THIỀN là tịnh lự, còn gọi là CHỈ QUÁN. “Chỉ” là buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước; “Quán” là thẩm xét ra “phàm tướng nào có sanh ra, hết thảy đều hư vọng”.
2 佛法不管是哪一宗,显教密宗,各宗各派,都重视禅定。无量法门都是修禅定,离开禅定就没有佛法了,可见得禅定非常重要。
Phật pháp bất luận là tông phái nào, hiển giáo hay mật tông, mỗi tông mỗi phái, đều xem trọng thiền định. Vô lượng pháp môn đều là tu thiền định, xa rời thiền định tức thời không có Phật pháp rồi, thế mới thấy đắc được thiền định là vô cùng cần thiết.
3 佛法的修学着重禅定,不着重研究。经典愈研究是愈糟糕,愈差错;你心定,你心清净,你就全都明了了。所谓觉心不动,你只要心定下来,就与你的觉性相应了。
Tu học Phật pháp rất chú trọng Thiền định, không chú trọng nghiên cứu. Kinh điển càng nghiên cứu càng rắc rối, càng nhầm lẫn; tâm anh định, tâm anh thanh tịnh, anh chính là toàn bộ minh minh liễu liễu. Gọi là tâm giác ngộ không lay động, anh chỉ cần đặt chân vào tâm định, chính là cùng với giác tánh của anh tương ứng rồi.
4 修行人要喜欢寂寞,心常住定中,才能成就。有道行的人,言语必少,因为他的心是定的。
Người tu hành cần phải vui thích với sự tịch mặc, tâm thường trú trong định, mới có thể thành tựu. Người có đạo hạnh, ngôn ngữ hẳn là rất ít, bởi vì tâm của họ là tâm định.
5 定是佛门修行的关键,也就是说,我们要恢复本性、恢复真心,用什么方法?用定。
Định là then chốt tu hành của Phật môn, cũng chính là nói, chúng ta cần khôi phục bản tánh, khôi phục chân tâm, dùng phương pháp nào? Sử dụng Thiền định.
6 佛法不是知识,它是智慧。知识是从分别心里面显现出来的,智慧是从清净心里面显现出来的,它不一样。念佛人修清净心,清净心就是禅定。
Phật pháp không phải là tri thức, nó là Trí tuệ. Tri thức là tư trong cái tâm phân biệt xuất hiện ra, Trí tuệ là từ nơi trong tâm thanh tịnh lưu xuất, nó không giống nhau. Người niệm Phật tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là Thiền định.
7 念佛人讲“功夫成片、一心不乱”,那就是禅定。净土宗是用“持名念佛”的方法修禅定。没有一个法门不是修定的,你认为只有禅宗才修定,那你就搞错了!
Người niệm Phật nói “công phu thành mảng, nhất tâm bất loạn”, đó chính là Thiền định. Tịnh độ tông là dùng phương pháp “trì danh niệm Phật” để tu Thiền định. Chẳng có một pháp môn nào mà chẳng là Thiền định, anh cho rằng chỉ có Thiền tông mới tu Thiền định, như thế là anh đã làm sai rồi!
8 禅定不是心里什么都没有,不是的,禅定是清清楚楚、如如不动。遇到任何事情,都要练习心中了了分明,如如不动。“如如不动”就是内心清净,没有妄想分别执着。
Thiền định chẳng phải là trong tâm cái gì cũng chẳng có, không phải vậy, Thiền định là rõ rõ ràng ràng, như như bất động. Gặp phải sự tình gì, đều phải tập cho trong tâm liễu liễu phân minh, như như bất động. “Như Như bất động” chính là nội tâm thanh tịnh, không có vọng tưởng phân biệt chấp trước.
9 禅定不是闭着眼睛参,是睁着眼睛参的,六根见外面六尘境界清清楚楚。要不要打坐,跟“禅定”没什么大关系。真正高明的“定”没有迹相,行住坐卧都是“禅定”,嬉笑怒骂也是“禅定”。
Thiền định không phải là nhắm mắt lại mà tham thiền, là mở mắt mà tham thiền, lục căn nhìn thấy lục trần bên ngoài rõ rõ ràng ràng. Ngồi thiền hay không ngồi, cùng với “Thiền định” chẳng có quan hệ gì. Định chân chánh cao minh chẳng có kiểu dáng, đi đứng ngồi nằm đều là “Thiền định”, cười đùa la rầy lại cũng là “Thiền định”.
10 《坛经》里面说:外不着相叫“禅”,内不动心叫“定”。六根接触六尘境界,你不着相,就叫做“禅”;心里不起贪嗔痴慢,心里清净不起烦恼,就叫做“定”。
Trong “Pháp Bảo Đàn Kinh” có nói: ngoài không trước tướng gọi đó là “Thiền”, trong bất động gọi đó là “Định”. Lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần, anh không chấp tướng, chính là thực hành thiền; trong tâm không khởi tham sân si mạn, tâm thanh tịnh không khởi phiền não, gọi là thực hành định.
Nguồn: http://www.xuefo.net/znxg_13809_1.htm
Chỉ mong chuyển được ý để bạn đồng học đồng tu nào chưa học qua tiếng Hoa có thể lược xem đại ý. Bài dịch nếu có sơ sót, xin được chỉ dẫn thêm.
Lý Nhật Minh http://blog.com.vn/ly_nhat_minh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
